8/31/2011

Farewell

Hôm nay quay lại Pop Council nửa ngày để tạm biệt mọi người. Cả cơ quan dẫn đi ăn trưa, rất đông đủ, sếp lần đầu tiên mang em bé đến cơ quan. Cảm động, rưng rưng là tâm trạng của ngày hôm nay. Bà vice-president phát biểu, cảm ơn, đồng thời đọc cảm nghĩ của mọi người về mình. Cơ quan tặng một cuốn sách, một cái áo choàng giống như chăn để chống lạnh kèm tên của mình ở trước ngực áo, và 1 cuốn album ảnh ghi lại những khoảnh khắc trong 2 năm qua. Đây là 10 cảm nghĩ của mọi người về mình (được in trang trọng trên bìa cuốn album):

1) persistence in motivating PC staff to get papers published
2) ability to whip up complex mathematical HIV models that Einstein would find confusing
3) patience working with the Nigerian government's timelines and politics
4) unwavering dedication to completing data tables before eating lunch (the real secret behind his slender physique)
5) ability to survive trips to Nigeria after being showered with broken glass and falling victim to a range of stomach bugs from the pepper soup
6) wizard-like skills with STATA and RDSAT
7) willingness to carry cumbersome items to far away places
8) excellent culinary skills in creating delectable dishes
9) sharp sense of international style- no one in the office wears a scarf better than him
10) sense of humor, caring nature, and devotion to doing excellent work which will be sorely missed.

Thanks everyone at PC and the unforgettable moments. I will definitely miss you.

8/28/2011

Ghi chép vụn (38)

Đã thấy thu về trên nhánh lá. Trời đã mát và hơi lạnh đã tràn về mỗi đêm.
Thứ 2, 3 đem cà vạt. Thứ 4, 5 bỏ cà vạt. Thứ 6 jeans.

*****
Hôm nay đem được 3 chậu cây đến phòng làm việc. Một chậu cây được tặng cách đây năm rưỡi nhân dịp sinh nhật, một chậu cây mua ở vườn thực vật cách đây mấy tháng, và một chậu lan vừa được mua chiều nay. Bao giờ có thời gian mua thêm 2 chậu nữa để dọc bức tường cửa sổ. Phòng mình tràn ngập ánh nắng nên phải hạ rèm, chỉ để vừa đủ ánh sáng soi vào. Mang được một số file và sách xếp vô cái giá, treo được 1 bức tranh và một tấm handicraft của châu Phi. Còn nguyên khoảng tường nơi mình ngồi đối diện sẽ được trang trí khi nào có thời gian. Hiện tại mới chỉ treo lên một cái board nhỏ để gắn những thứ mình cần làm, cần ghi nhớ. Khoảng tường này cần 2 bức tranh khổ lớn. Tính mình là thế, cái phòng làm việc cũng phải giống cái nhà, phải thấy là "home" thì mới ngồi làm việc hiệu quả được.

Lần đầu tiên mình làm việc ở một chỗ có rất đông người. Mấy hôm đầu sếp dẫn đi mấy cuộc họp giới thiệu, ổng làm cái list tên từng người, ngồi ở từng vị trí, rồi đưa cho mình. Vậy mà vẫn không nhớ nổi. Sáng hôm đầu tiên đến cơ quan, mình đến trước khi lễ tân xuất hiện, sếp chạy từ tầng 7 xuống đón, và gặp ngay ông president mở cửa bước vào. Thế là được giới thiệu luôn. Ông này rất ấn tượng. Khác hẳn dáng vẻ của người làm khoa học thuần túy như ông president ở chỗ cũ. Đúng là làm lãnh đạo phải cần năng khiếu. Nghe ổng điều khiển cuộc họp mới thấy khâm phục, vừa vui, vừa thông minh và luôn toát ra sự thân thiện. Ông này là dân gốc ngoại giao nên cũng dễ hiểu.

Cơ quan sở hữu luôn tòa nhà. Cho thuê tầng 1, 2, 3 và 8. Mình làm việc xuyên 2 departments nên thi thoảng phải từ tầng 7 xuống tầng 4. Khu này đầy quán ăn luôn, ngay dưới tầng trệt của building là 3 cái nhà hàng, 1 của Hy Lạp, một Á, và một Mỹ. Chiều chiều bước chân ra khỏi cơ quan thấy phấn khích bởi người người ngồi ăn uống dọc 2 bên phố kéo ra bến tàu điện ngầm, giống như cafe vỉa hè ở Việt Nam vậy. Đi làm vất vả hơn chỗ cũ 1 chút vì phải mất một lúc ngồi trên metro. Nhưng nói chung, không khí làm việc ở chỗ này thích hơn, bạn bè loanh quanh khu này cũng đông hơn nên í ới nhau đi ăn trưa cũng tiện. Ở tầng hầm cũng có 1 cái gym miễn phí dành cho nhân viên, khá sạch với phòng tắm đầy đủ. Nhưng thấy không có hứng chui xuống cái chỗ không có cửa sổ. Cơ quan trả 50% chi phí đi gym nên chắc sẽ kiếm chỗ nào tử tế đi để giữ cho cái bụng khỏi phệ.

Hôm đầu tiên cả department dẫn đi ăn. Thứ 4 với thứ 6 thì được 2 director dẫn đi ăn. Mình cảm thấy rất được welcome ở chỗ mới. Chỗ này đa dạng và ai cũng open-minded vô cùng. [Các tổ chức làm về phát triển đa phần đều giống nhau ở điểm này; làm ở đây không bao giờ cảm thấy mình là dân thiểu số]. Một vài ví dụ để thấy đồng nghiệp của mình toàn là những người không cần phải làm sensitization về diversity. Bà director da trắng, lấy một ông chồng gốc Ấn độ khi cả 2 đang học ở Tulane cách đây hơn chục năm. Họ không sinh con mà xin con nuôi. Bà từng sống và làm việc ở Thái Lan nên đã xin một đứa bé người Thái, hiện đã 5 tuổi. Bà đang xin một đứa bé nữa người Ethiopia và hiện đang trong thời gian chờ đợi. Ông sếp mình đã có thời gian sống ở châu Á đặc biệt có nhiều năm sống ở Rangoon, Myanmar. Vợ ông làm cho UNHCR và 2 người cũng dự định xin con nuôi. Môt cô đồng nghiệp người gốc Tàu. Cô này hiền lành và nice lắm; chỉ cần nhìn mặt đặc biệt khi cô cười là đủ thấy. Mấy người từng làm ở đây bảo với mình, Hongmei là đứa sweet nhất mà tao từng gặp. [Không phải tất cả người Tàu đều giống nhau]. Một cô vào trước mình 8 tháng và là người phỏng vấn mình đầu tiên; cô cũng đã có thời gian làm việc ở Thái Lan; từng gặp và biết ông thầy mình khi ở Thái. Cô này da trắng, học UW, rồi Harvard. Cô lấy 1 anh chàng người Thái và họ đã có cậu con trai lai hơn 2 tuổi. Bên department ở tầng 4 cũng rất đa dạng và mọi người ở đó cũng rất nice. Đang hẹn hò đi ăn dần với một số người vào tuần sau.

Chỗ mới hứa hẹn sẽ đưa mình đi đến nhiều nơi mình đang thèm được đến. Đầu tháng 10 sẽ đi Johannesburg, sau đó sẽ quay lại Mỹ cho 1 tuần retreat ở một hòn đảo ở South Carolina. Tháng 11 mình sẽ đi 1 chuyến nữa, chưa quyết định sẽ là mấy nước khu vực Nam Phi hay Đông Phi.

8/23/2011

Đôi khi cũng cần động đất

Ngày thứ 2 ở chỗ làm mới. Động đất khi vừa đi ăn trưa về. Mình ngồi trên tầng 7 thấy trần nhà rào rào, rắc rắc, chả hiểu binh tình ra sao. Giá sách rung, người rung. Rung một cách khó giải thích. Đoán là động đất nhưng không chắc lắm. Chạy ra ngoài thì mọi người confirm là động đất. Sau đó thì có loa thông báo rời khỏi building. Thế là xuống đường đứng. Đông vui dã man. Chỗ này toàn là văn phòng nên dân tình đông quá thể. Điện thoại di động chết ngỏm suốt hàng 2-3 tiếng đồng hồ. Chả hiểu vì sao. Chắc do nhiều người sử dụng quá? Hậu quả, hôm nay được về sớm. Nhưng có về lúc này cũng tắc ở đường và metro mà thôi. Ở lại làm thêm một số thứ, 4h về. Vậy mà metro chạy như rùa bò, 15 dặm/h, thật thê thảm. Trên mặt đất cũng vẫn đông ngìn nghịt người và xe.

2 ngày nay bận không mở được mắt vì có nhiều cuộc họp đang diễn ra. Mình bị lôi đi giới thiệu và dự để tranh thủ hiểu về chỗ mới. Ngày thứ 2 đã gặp được các sếp lớn nhỏ. Ấn tượng ban đầu là tốt, quá nhiều việc, và đồng nghiệp rất thân thiện.

Update: Một số tòa nhà cao bị hư hỏng. Đáng chú ý nhất là tòa nhà tưởng niệm Washington bị một vết nứt.

8/21/2011

Good news

Hôm cuối tuần có thêm 2 bài báo nữa được nhận đăng, 1 trên AIDS Care và một trên International of Sexual Health, nâng tổng số bài lên 8. Ngày mai đi làm chỗ mới, xa hơn một chút, thời gian làm việc dài hơn chỗ cũ 1h, 9am-6pm chứ không còn là 9am-5pm. Sang chỗ mới chắc ít thời gian viết bài báo khoa học hơn nhưng mà dạo này cũng ít áp lực hơn vì mình đã có kha khá số bài báo rồi. Update trên linkedin đây.

Cuối tuần lái xe đi North Carolina, thăm nhà này, gặp thêm nhà này, và nhà này nữa. Cám ơn chủ nhà đã nhiệt tình tiếp đón. (Nhà của bà chủ to bự, 6 phòng ngủ, phòng nào cũng có cái flat TV cỡ 50 inch nữa chứ). Nếu không có cái vụ chủ nhà dẫn khách vào công viên rồi bị rắn cắn thì chắc vui hơn. Nhưng cũng ăn uống và karaoke mỏi mồm (mấy năm rồi mới được karaoke nhưng mà dạo này hơi ông lão quá rồi nên hát không nổi). Qua Chapel Hill thăm lại UNC và đồng thời thăm lại cái chỗ ngày xưa mình trọ học kỳ thu của năm 2005. Vậy là gần 6 năm rồi. Chapel Hill vẫn vậy, đông nghịt sinh viên đang đến nhập trường. Ngắm các em tươi trẻ quần đùi áo phông đầy đường của đáng tội cũng thích mắt. Nhưng mà giờ bảo mình quay lại trường học chắc mình chết luôn. Cũng chạy sang Duke một tí nhưng Duke buốn như chùa bà đanh. Duke có quá ít sinh viên và không có cái downtown như kiểu Chapel Hill nên đặc sệt nhà quê.

Chủ và khách
Photobucket

Cái phòng này mình đã từng ở từ tháng 9-12/2005. Ngày xưa cây cối trưa có um tùm như thế này.
Photobucket

Old Well, biểu tượng của UNC
Photobucket
Duke University
Photobucket
Photobucket

8/18/2011

Truyền thông lúng túng trong chuẩn mực giới

Nhân chị Hương viết bài “Truyền thông lúng túng trong các chuẩn mực giới”, tôi xin có thêm đôi lời. Phải nói thật rằng truyền thông của ta lúng túng trong rất nhiều chuẩn mực. Hậu quả, đáng lẽ truyền thông phải đóng vai trò quan trọng trong phát triển (development) thì ở đây chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy những ảnh hưởng tiêu cực của truyền thông ta: kìm hãm phát triển (anti-development).

Lấy ý thứ 3 trong bài viết của chị Hương về việc truyền thông làm ngơ vấn đề mại dâm và thậm chí còn vào cuộc làm cho nhóm này bị đẩy ra rìa xã hội và bị xâm phạm thân thể và nhân cách và không được pháp luật bảo vệ. Quan niệm về mại dâm của xã hội chúng ta đang sống hiện rất thuẫn nhau: một bên là nhu cầu cần có mại dâm và một bên kỳ thị, biến họ thành tội phạm. Xét về quyền lao động (labor rights), tất cả mọi người đều có quyền được làm việc trong khi không phải ai cũng có thể kiếm được việc làm tại các công sở. Phần lớn những người làm nghề mại dâm bởi họ không có khả năng tìm việc khác. Hơn nữa, xét về mặt quyền con người, phụ nữ có quyền bán dâm kiếm sống, không có lý do gì họ phải đi xin phép xh cho phép được sử dụng thân thể của họ. Nói cách khác, thân thể tôi, tôi muốn làm gì là quyền của tôi. (Đây thuộc fundamental rights to control one’s own body).

Mại dâm được coi là hợp pháp ở một số nơi trên thế giới nhưng hầu hết các quốc còn lại có chính sách rất thoáng vời nghề này (mại dâm được tolerate ở hầu hết các nơi trên thế giới và hoạt động khá công khai). Ở đó cũng có rất nhiều các tổ chức phi lợi nhuận đứng ra bảo vệ nhóm này và tác động đến thay đổi chính sách. Ở những xh bảo thủ và thiếu óc phản biện như ta, việc bắt giữ mại dâm khiến những người này bị lạm dụng thân thể, bị chà đạp nhân phẩm, thậm chí bị cảnh sách kinh doanh trên thân thể của những người này (bảo kê mà chúng ta đều thấy). Cảnh sát và quy định của pháp luật khiến những người làm nghề này phải ra đứng đường làm cho xh càng thêm nhơ nhớp (thay bằng việc có hẳn khu kinh doanh mại dâm). Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề liên quan đến an toàn thân thể và an toàn tình dục của người làm nghề mại dâm cũng như khách hàng do hậu quả của việc coi mại dâm là nghề bất hợp pháp. Vì bị coi bất hợp pháp, người làm nghề mại dâm không còn cách nào khác ngoài việc không khai báo việc mình bị bạo hành hay lạm dụng. Cảnh sát hãy tập trung vào việc trấn áp tội phạm thật sự (real crimes) chứ không phải đi làm những việc vô bổ mà ở đó việc người ta làm tình với ai là quyền của người ta, chỉ cần sự đồng tình của họ (consent).

Truyền thông của ta đã không làm nghĩa vụ bảo vệ những nhóm dễ tổn thương (vulnerable) hay tác động đến việc thay đổi chính sách để kéo nhóm này đi lên nhằm làm giảm khoảng cách giàu nghèo, bệnh tật, và bất công. Trái lại, truyền thông của ta đã thể hiện mình là công cụ không có khả năng phân tích và phản biện, liên tục đưa tin tiêu cực, cổ vũ cho những hành vi trấn áp vô bổ với ngôn từ và tâm thế hết sức thiếu nhân văn và phản phát triển.

(Một nhóm nữa cần bàn tới trong chủ đề này là nhóm đồng tính và chuyển giới).

8/17/2011

How?

Thứ 2 tuần tới sẽ bắt đầu đi làm chỗ mới. Hết đi bộ vì office mới nằm ở Dupont circle. Đoạn đường từ nhà đến chỗ làm chỉ dài 5km. Đang băn khoăn giữa đi metro hay đi xe đạp. Đi xe đạp sẽ đỡ được khoản thể dục thể thao hàng ngày mà lại góp phần làm trong sạch môi trường. Chỉ có điều cái đại lộ Connecticut không có bike lane mà lúc nào cũng đông nghìn nghịt nữa chứ. Anyway, cứ đi mua cái xe đạp về rồi bike được vài hôm một tuần cũng tốt. Không bike được thì để đó cuối tuần đem vào công viên bike.

8/16/2011

In Vietnamese Village, Stitching the Wounds of Human Trafficking

Bài trên New York Times: Làng quê Việt hàn gắn nỗi đau từ nạn buôn người.
In Vietnamese Village, Stitching the Wounds of Human Trafficking

HOP TIEN, Vietnam — Rare visitors to Hop Tien often catch a first glimpse of this sleepy village in a blur as they career, white-knuckled, around a hairpin turn high in the mountains above.

What they do not see as they glance over the ruggedly beautiful territories of northern Vietnam is the ostracism of many women in this region, and the enterprising determination of one woman who has begun to fight against it.

Over a decade ago, human traffickers descended on this seemingly forgotten slice of soaring limestone crags and lush valleys to snatch up women and children and sell them over the border in China, less than four miles away.

The first predators arrived in Hop Tien in 2003, offering in seemingly innocent tones to buy some young women new shoes. Then the women disappeared. Soon others vanished too, all between the ages of 16 and 22, to be sold as wives, forced laborers or sex workers.

They were victims of a relatively widespread problem in Vietnam that included the abduction and trafficking of children as young as 5 or 6 years old, according to Matthew Friedman, the regional project manager for the United Nations Inter-Agency Project on Human Trafficking.

Between 2001 and 2005, the Chinese police say they rescued more than 1,800 trafficking victims on the Vietnam border, according to a 2005 State Department report on human rights. Since then, particularly over the last three years, Vietnam “has waged a significant and successful anti-trafficking campaign,” Mr. Friedman said. But it still faces challenges, and trafficking in people remains a problem.

Not least is the stigma attached to the victims once they have been rescued. After villagers here reported the abductions, the Vietnamese authorities collaborated with Chinese officials to find the women and, remarkably, bring them home.

But residents’ elation lurched to horror at the realization that two of the women were pregnant. News quickly spread that the others, too, had been made sex workers, and even those who did not bear the signs of the trade paid its price.

Fearful that a fallen woman would cast shame on the whole family, several households quickly disowned their kidnapped daughters. Some of the girls built makeshift tents, blue specks that can still be seen tucked high into the mountainside, a wide distance from town.

They were outcasts, without food, income or hope.

That is when Vang Thi Mai, a short woman with work-worn hands and a round, beaming face, took them in, and changed their lives and the fortunes of the entire village.

Even today villagers are reluctant to discuss the abductions and defer to Mrs. Mai. By her account, at least seven women were taken, and after they were shunned upon their return, she invited them into her home and eventually brought them into a small textile cooperative founded by her and her husband. She taught them how to separate hemp stems into strands, spin the strands into thread, weave the thread into fabric and dye the fabric for clothes and other items.

“When I began working with the victims, the town ostracized and criticized me for being associated with the women,” Mrs. Mai, 49, recounted in an interview. “They said the women were unpure and I should not befriend such unpure women. I told them what happened was not their fault, as they were the victims of others’ wrongdoings.”

Mrs. Mai, who had worked as a nurse and had been president of the district’s Women’s Association, told the women who had returned to ignore the village’s scorn. “I said to them that when they would be able to earn money, to live on their own and to care for others with their earned money, the town would have to change their thinking,” she said.

Indeed, one by one, other village women began noticing the co-op’s profits and grew eager to join. Today the co-op is 110 women strong, and working there can increase a household’s income fourfold. Even some men have begun helping with heavy lifting and more labor-intensive chores. Over the years, Mrs. Mai said, she has also brought victims of domestic violence into the co-op.

When one of the crafts is sold, Mrs. Mai explained, the income is distributed evenly among the women who helped produce it. She keeps 3,000 Vietnamese dong, less than 15 cents, from each item for a “rainy day fund” to help the women.

Today the co-op sells its goods to an increasing number of tourists who visit. Other customers include the French Embassy, a tourism company, a hotel owner and an export company in Hanoi that ships the goods to several countries worldwide.

The village, which lies within the commune of Lung Tam, is still poor, but it earns more than before and is in many ways better off than many others in Ha Giang, the country’s northernmost province and one of Vietnam’s poorest regions. More than 90 percent of its inhabitants are ethnic minorities, most of whom scratch out a living — less than $250 per year on average — by farming among the precipitous Huang Lien and Can Ty mountain ranges.

Mrs. Mai’s co-op has managed to preserve the traditions of her Hmong minority while improving the region’s economy and empowering its women, a hat trick that has steadily earned her the support of political figures and nongovernmental organizations alike. Mrs. Mai has been visited by President Tran Duc Luong of Vietnam and was flown to France to represent her culture at an international craft fair. Batik International, based in Paris, became involved with the co-op in 2007, joined later by Oxfam and Caritas.

“It’s so unexpected when you see her and you know what she has been able to do,” Stephanie Benamozig, a project manager for Batik, wrote in an e-mail. “I almost expected her to be a strict woman in a business suit but she is just this sweet, smiling person that looks like the town mother.”

Mrs. Mai, who on her own initiative and with her parents’ support was educated until age 17, is one of the few in her province who speaks and reads Vietnamese in addition to her minority dialect. Such education is rare among the province’s Hmong, more than 60 percent of whom are illiterate.

Her own daughter is now a teacher, and she encourages the women in the co-op to send their children to school, too. Poverty, strict patriarchal mores and a lack of knowledge of the outside world have left many other trafficking survivors in this region with few options.

So much of the success of the co-op has depended on Mrs. Mai’s extraordinary skills that it has proved difficult to replicate. “Mrs. Mai is very strong,” Ms. Benamozig said. “In Lung Tam, Mrs. Mai deals with everything. She manages everything. It’s not common to have such a personality.”

Many of the women Mrs. Mai initially rescued have since married. “They were lucky to find men who were able to understand that their unpureness was not their fault and loved them for who they were,” she said. Attitudes in the village have slowly changed.

“There is still a group of elders who cannot understand and support me,” Mrs. Mai said. “But the rest — younger people — are able to see why I did what I did and support me. They also no longer ostracize the women.”

Băn khoăn

Đọc được một số bài về kinh tế của một số nhân vật được coi là chuyên gia kinh tế gốc Việt tại Mỹ. Mấy ổng nhận định về mức nợ của Mỹ cũng như một số chính sách kinh tế của chính quyền ông Obama. Điều làm mình băn khoăn là dân Việt ở Mỹ mặc dù là dân nhập cư đến muộn, đa phần phải sống bằng trợ cấp của chính phủ trước khi có thể tự lập mà lại có tư tưởng bảo thủ, nghiêng theo phe cộng hòa – phe có tư tưởng coi dân da trắng thuộc diện “white supremacy”, racist, và thường đổ lỗi lên người nhập cư và người da đen. Đáng tiếc, những chuyên gia kinh tế này (tạm gọi là tấng lớp trí thức tinh hoa) cũng mang nặng đầu óc bảo thủ và đưa ra một số nhận xét rất thiếu chính xác. Ví dụ, có ông nói rằng thâm hụt ngân sách là do gói bảo hiểm y tế của ông Obama. Điều này sai vì bảo hiểm y tế cho toàn dân hiện vẫn chưa có hiệu lực. Có ông phản đối chính sách thuế của Obana. Điều này cũng sai nốt vì từ ngày ông Obama lên, chưa hề có tăng thuế. Trên thực tế chính sách thuế từ thời ông Bush cũng như quan điểm về thuế của phe cộng hòa tại Mỹ đều có lợi cho người giàu. Người giàu, công ty dầu mỏ, corporations, những năm vừa qua đạt lợi nhuận kếch xù từ chính sách thuế của ông Bush trong khi nhà nước thâm hụt ngân sách. (Chính sách giảm thuế của Bush contribute ~15% cho tổng số nợ của Mỹ). Những tỷ phú tại nước Mỹ như Gates, Buffett, Bloomberg, và hàng loạt các chính khách lớn của phe dân chủ đều lên truyền hình nói rằng họ sẵn sàng trả thuế cao hơn vì chính sách thuế hiện tại là lố bịch. Tôi lấy đơn cử 1 ví dụ, một người độc thân với mức thu nhập khoảng 100 ngàn/năm từ employment tại Mỹ sẽ phải trả thuế cỡ ~30% (thuế liên bang lẫn tiểu bang). Trong khi những tỉ phú chỉ phải trả thuế cỡ ~17%. (Thuế thu từ lợi tức đầu tư có tỉ lệ thấp hơn và những người này còn được hưởng hàng loạt tax break từ đâu tư, xuất khẩu). Ví dụ ông Buffett năm vừa rồi trử 7 triệu tiền thuế nhưng chỉ chiếm khoảng 15% tổng thu nhập của ông.

Một poll gần đây của Time/CBS cho thấy có tới 72% dân Mỹ đồng ý rằng dân giàu nên trả thuế nhiều hơn nữa. Vậy mà phe Cộng hòa vẫn dài mồm đem bài toán giảm thuế ra dụ những người dân không có thông tin ở những vùng nông thôn.

Có nhiều lý do để người giàu phải trả nhiều thuế hơn. Tôi đơn cử ra vài lý do:

1) Người giàu là những người sử dụng và đạt lợi nhuận nhiều nhất từ phát triển cơ sở hạ tầng, an ninh, cảnh sát (cho bản thân họ và công ty của họ)
2) Người giàu là người đạt lợi nhuận nhiều nhất từ các khoản đầu tư của chính phủ bởi đa phần những người này là contractor cho các dự án chi tiêu đó. Ngay khoản tiền kích cầu thì cũng là để benefit tầng lớp này
3) Người giàu nhận được nhiều nhất từ các khoản tiền an sinh xã hội (thu nhập càng cao thì an sinh xh lúc về già càng nhiều)
4) Ngoài ra còn các khoản tax break, subside cho các tập đoàn kếch xù. Lập luận của phe cộng hòa cho rằng thuế cao sẽ ngăn cản người giàu đầu tư là hoàn toàn không có cơ sở.

Có một vài giải thích dân Việt và Cuba tại Mỹ, 2 cộng đồng nhập cư hiếm hoi, ủng hộ phe cộng hòa vì chính quyền cộng hòa mạnh tay với cộng sản. Một giải thích nữa là nhiều dân Việt sùng đạo (Catholic) và vì vậy họ thuộc diện “social conservative” phản đối nạo phá thai và hôn nhân đồng giới và vì vậy ghét phe dân chủ. Nhưng họ không nhận ra một điều người nghèo ở xh nào cũng là người thiệt thòi nhất và vì vậy đừng bao giờ ủng hộ chính quyền nào không đứng về phía người nghèo. Hơn nữa, một chính phủ phải hoạt động khác với một công ty và việc đảm bảo an sinh xh là điều tối cần thiết mà chính phủ phải thực thi. Những chính quyền không đảm bảo được phúc lợi xh, y tế, giáo dục để người nghèo có cơ hội vươn lên và giảm khoảng cách giàu nghèo là chính quyền tồi.

Ông Paul Krugman hôm chủ nhật có đùa trên CNN rằng nếu có một cuộc chiến với người ngoài hành tinh để kích thích chi tiêu và sản xuất thì thế giới sẽ thoát khỏi suy trầm. Ý ông là cần đầu tư và chi tiêu nhiều hơn nữa để tạo công ăn việc làm chứ không phải là bài toán cắt ngân sách một cách bất công và thiếu luận chứng kinh tế như của phe cộng hòa.

8/14/2011

Bye bye Harry Potter

Nhìn 7 cuốn Harry Potter trên giá sách mà rưng rưng, vậy mà đã mười mấy năm. Bao giờ đứa cháu nào đọc tốt tiếng Anh mình sẽ mang 7 cuốn này về tặng. Kỷ vật của một thời đã qua.

Details



Xem xong phần cuối của Harry Potter ngày hôm qua, phiên bản 3D với đầy đủ hoài niệm, bồi hồi, và cũng rất là mãn nguyện. Tập phim cuối cùng khép lại một thời trai trẻ [hic, nay thì mình đã già]. Tập phim cuối cùng khép lại một thế hệ, thế hệ thiếu niên nhi đồng mọc lông thành thanh niên. Tập phim cuối cùng mở ra một thế hệ h/s mới của trường Hogwarts. Mười chín năm sau cũng ở ga tàu King Cross, Harry cùng vợ dẫn 3 con nhỏ đến trường, một đứa mang tên cha, một đứa mang tên mẹ, và một đứa mang tên giáo sư Snape. Snape, người tình trung thủy đứng bên ngoài cuộc đời của mẹ Harry. Người bị độc giả ghét oan từ tập 1 cho đến tập cuối, và phải chờ đến lúc ổng chết người ta mới hiểu về cuộc đời ông.

Hình ảnh đẹp, diễn xuất tốt, và trận tử chiến cuối cùng diễn ra giữa Voldemort và Harry với nhiều chết chóc, đổ vỡ, đớn đau nhưng cũng rất hào hùng, như 1 bản anh hùng ca. Ngoại trừ những bạn phàn nàn về việc phim không trung thành với sách, mình cho rằng phần cuối này là phần hoành tráng nhất, đáng xem nhất, đã khép lại một giai đoạn bất ổn bằng một cái kết rất có hậu. Harry Potter and the Deathly Hallows, part II đã đạt doanh thu 1.2 tỉ đô sau 1 tháng ra rạp và đây sẽ là phim hay nhất của năm 2011.

Thousand of dogs smuggled into Vietnam to be cooked

Ăn thịt chó cũng là một cách làm cho chúng ta nổi tiếng và nổi bật.

Click here for pics.



AFP, BANGKOK — Thai authorities have rescued more than a thousand dogs, which were found stuffed into tiny cages and being smuggled out of the country to be cooked and eaten in Vietnam, according to officials.

Police intercepted four trucks stacked high with crates packed with the animals in an operation on Thursday evening in Nakhon Phanom province in northeastern Thailand near the border with Laos.

A Nakhon Phanom livestock development official said 1,011 dogs were being held in a government shelter after two separate raids in Nathom and Si Songkhram districts.

She said an additional 119 had died either through suffocation in the cramped cages or when they were thrown from the back of the trucks as the alleged traffickers sped away from arresting officers.

Two Thai men and a Vietnamese man have been charged with trafficking and the illegal transportation of animals, police case officer Captain Prawat Pholsuwan told AFP.

"The maximum punishment is a one year jail term and a fine of up to 20,000 baht ($670)," he said.

The dogs were transported from nearby Sakon Nakhon province and were destined to be taken across the Mekong river in Laos and into Vietnam, Prawat added.

Traffickers, who round up stray dogs and barter for pets in rural Thai villages, can receive up to $33 per dog in Vietnam, police said.

8/12/2011

Ostia, Italy

Một hôm mình nhảy taxi từ Rome đi Ostia, nơi có khu bảo tồn hùng vĩ và khá toàn vẹn của một Ostia đã chết từ hơn ngàn năm trước. Hỏi anh lễ tân khách sạn về thông tin và đường sá, anh ấy trách mình là sao lại phí tiền đi taxi làm gì. Anh lễ tân này lúc nào cũng nghiêm nghị và rất biết tiết kiệm tiền giùm khách. Ví dụ, sáng sáng mình muốn ra đường ăn sáng, uống café và ngắm sexy Italian thì anh ấy toàn hỏi lại mình với giọng điệu đầy trách móc là sao không ăn ở khách sạn cho đỡ mất tiền. Anh ấy chỉ mình cách đi tàu đến Ostia nhưng ở cái xứ Ý mà tiếng Anh không được trọng dụng cho lắm này thì nhảy tàu quả là làm mình nản.

Mình không gọi taxi đến khách sạn mà đi bộ ra đầu đường, chỗ có 1 hàng dài taxi đứng chờ. Tình cờ gặp chị lái taxi. Chị chứ không phải anh và gặp chị lái taxi thường rất là hiếm.Ostia nằm cùng hướng ra sân bay quốc tế Fiumicino, cách Rome khoảng 30 km. Dọc đường đi có dịp quan sát những cách đồng trồng nho và hoa quả. Đường ở Ý nhỏ thôi chứ không rộng như Mỹ, nhưng chất lượng khá tốt. Taxi không dùng điều hòa nên có dịp mở cửa sổ và được ngửi mùi gió biển từ Địa trung hải thổi vào. Taxi ở Ý đẹp, xe mới và có chất lượng tốt chứ không xấu xí thảm hại như taxi ở Mỹ. Tài xế taxi ở đây cũng đa dạng chứ không rặt dân nhập cư da đen hay Pakistan như ở Mỹ. Và tài xế nào cũng mở nhạc Anh Mỹ làm mình cứ phải đề nghị họ mở nhạc Ý. Âm nhạc và điện ảnh Mỹ quả là nguy hiểm, chúng luồn lách và thâm nhập mọi xứ sở.

Ostia là một thành phố cảng, được bắt đầu khai phá và xây dựng từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên. Trước kia thành phố cách biển khoảng 30 km, nhưng do sự lún sụt của đại dương, hiện tại Ostia chỉ cách biển 3km. Tên Ostia có nghĩa là mouth (cửa sông), là nơi đổ ra biển của con sống Tiber. Ở đây hiện tại còn lưu giữ được những công trình kiến trúc, nhà hát, trường đào tạo cha đạo, những khu chợ, mồ mả từ thế kỷ 4 trước công nguyên. Thật tuyệt khi được tận tay sờ vào những đồ vật và những công trình kiến trúc được làm ra từ hơn 2 ngàn năm trước. Thăm khu này để thấy thán phục sự thông minh tuyệt vời của người La Mã cổ đại.Những bức tường xây thật đẹp với những cột, tượng, và hoa văn như chúng ta còn nhìn thấy ở những thành phố châu Âu hiện đại. Thời đó người ta đã biết cách làm những chiếc giếng khoan lấy nước sinh hoạt, đã có những đền thờ, những trung tâm sinh hoạt cho người dân, đã có những trường dòng được tổ chức như những trường đại học, và thậm chí là cả nhà hát mà hiện nay cái sân khấu của nhà hát ấy vẫn còn được sử dụng cho các sự kiện âm nhạc. Ostia phát triển và thịnh vượng nhất vào thế kỷ 2, 3 sau công nguyên. Thành phố bị tàn phá và bỏ hoang bởi cướp biển từ Ai Cập và châu Phi và sau khi người ta xây dựng Rome thì thành phố bị bỏ hoàn toàn. Người ta sử dụng những vật liệu ở đây đem về xây dựng Rome.

Bên cạnh Ostia đổ nát là một Ostia hiện đại, nhỏ nhắn và yên tĩnh. Mình rời khu bảo tồn lúc 5h chiều và quay về uống cafe ở đây. Mọi thứ ở đây đều rẻ một cách kinh ngạc nếu đem so với Rome. Mình vào quán cafe thứ nhất hỏi taxi hoặc bus về lại Rome nhưng cả bà chủ lẫn mấy cậu uống cafe cỡ đôi mươi đều không ai nói tiếng Anh đủ để hiểu mình hỏi gì. Ngồi ở đây uống cafe và ngắm nghe dân Ý. Rồi mình chuyển sang quán cafe thứ 2, đem cuốn sách hướng dẫn ra đọc để tìm cách về lại Rome. Phát hiện ra cái xe bus M4 đưa mình ra bên tàu về Rome nhưng họ không bán vé xe bus; phải mua vé xe bus từ những điểm bán vé chứ không mua được vé từ tài xế. Đi tìm được 2 chỗ bán vé xe bus nhưng họ đều trả lời đã hết. Lại lang thang, đầu lẩm bẩm, không khéo đêm nay ngủ lại đây hay ngủ ở ghế đá công viên. Qua mấy hàng bán hoa quả, mua luôn mấy bịch mận và cherry vì ngon và rẻ quá. Mấy cậu nhóc bán hoa quả vẫn chỉ bập bẹ được vài từ tiếng Anh. Rồi đến một quán cafe khác.Lần này thì thiên thần xuất hiện. Cậu chủ quán cafe cỡ 20, nước da, đôi mắt vóc dáng đẹp kinh người. Người Ý rất đẹp nhưng cậu bán cafe này có lẽ là hội tụ của tất cả những nét đẹp của người Ý với đầy đủ sự ngây thơ và thánh thiện. Nhưng mình gọi cậu ấy là thiên thần vì cậu ấy nói tiếng Anh rất tốt và rất nhiệt tình giúp đỡ. Cậu ấy bảo có thể gọi taxi từ đây để về Rome rồi lật sổ tìm đưa mình số điện thoại. Mình bảo điện thoại của mình ngỏm rồi; cậu ấy không nề hà bấm ngay điện thoại gọi giùm taxi và bảo mình đợi 20 phút. Thế là làm chai bia ra ngoài ngồi và 20 phút sau có một anh chàng taxi đưa mình về Rome. Ước gì được ngồi mãi ở chỗ này.

(Hình minh họa sẽ được upload sau).

8/11/2011

Romeo and Juliet

Love ends either in two ways, badly or tragically.

Bi kịch nổi tiếng này trở thành biểu tượng tình yêu nhân loại; nó nổi tiếng đến mức ai có lẽ cũng biết. Sản phẩm của tình yêu té ra 1 là tệ, 2 là thảm kịch [ý của ông Mark Twain]. Tại sao TY này lại được ca ngợi trong khi nếu đem ra mà mổ xẻ thì Romeo và Juliet có thể bị coi là đôi bạn trẻ có vấn đề về tâm thần và thiếu kỹ năng xử lý tình huống [troubled kids; lack of coping skills]. Nếu quẳng vào thời điểm hiện tại thì 2 bạn ấy có thể đến kiếm một nhà tư vấn [therapist] nào đó và thế là đỡ đi 1 thảm kịch. Dù vẫn biết ông Shakespeare xây dựng nhân vật của mình để nhấn mạnh đến 1 điểm khác - phản đối những áp lực và trói buộc từ gia đình và xã hội lên tình yêu con em mình.

Love is addictive.

Tình yêu gây nghiện. Điều này chính xác. Những người nghiện ma túy phải chịu cảnh vật vã, đau đớn khi từ bỏ ma túy - gọi là withdrawal symptoms. Những người đang cai yêu cũng trải qua những triệu chứng tương tự.

8/08/2011

Tóm tắt từ hội nghị quốc tế về AIDS lần thứ 6 [IAS 2011]

Ảnh: Biểu tình phản đối việc một số chính phủ cắt giảm ngân sách cho Global Fund.

Vì bận và lười nên hôm nay mới tranh thủ ghi ra vài thông tin tóm lược về hội nghị AIDS lần thứ 6 được tổ chức tại Rome hồi cuối tháng 7 [6th IAS Conference on HIV Pathogenesis, Treatment and Prevention]. Hội nghị quốc tế về AIDS diễn ra mỗi năm một lần; năm chẵn hội nghị lớn và rất đa dạng có tên tắt là AIDS [ví dụ AIDS 2012 sẽ được tổ chức tại Washington DC vào năm tới]; năm lẻ có quy mô nhỏ hơn, chủ yếu tập trung vào nghiên cứu lấy tên tắt là IAS [International AIDS Society].IAS 2013 sẽ được tổ chức tại Kualar Lumpur, Malaysia.

Hội nghị lần này có một phần tập trung vào những mảng phòng nhiễm quan trọng như cắt bao quy đầu, các biện pháp thay thế cho người nghiện chích ma túy [methadone], và phòng tránh lây nhiễm từ mẹ sang con. Hiện nay cắt bao quy đầu đang được mở rộng [scale up] ở hầu hết các nước châu Phi có tỉ lệ cắt bao quy đầu thấp. PSI là một trong ít tổ chức đang thực hiện việc scale up can thiệp này với số tiền khoảng 20 triệu đô từ quỹ Gates. Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con là một biện pháp vô cùng hiệu quả [gần như tuyệt đối] tuy nhiên cũng còn gặp rất nhiều khó khăn ở các nước châu Phi nghèo do các bà mẹ không đi khám thai hoặc không đưa trẻ quay lại nhận kết quả [do địa hình phức tạp, nghèo, cơ sở y tế kém, thiếu kiến thức và thông tin]. Hiện nay vẫn có nhiều trẻ em tại châu Phi nhiễm HIV mà chưa được xét nghiệm.

Một điểm sáng trong hội nghị lần này và điều làm tôi rất phấn khích đó là các nghiên cứu về phòng HIV bằng thuốc kháng HIV [Pre-exposure], Vaccine, và nghiên cứu cho việc điều trị khỏi hoàn toàn HIV [HIV cure]. Đây thực ra không phải lĩnh vực tôi làm nhưng tôi đã dự mấy sessions về mảng này và rất phấn khởi khi nghe những kết quả mà các nhà khoa học tại các viện nghiên cứu, phòng lab tại các hãng dược lớn, và các trường đại học trình bày. Lần đầu tiên hội nghị đã nhấn mạnh và hướng đến tìm ra thuốc giúp loại hoàn toàn HIV ra khỏi cơ thể. Tiên lượng còn một chặng đường dài để có được HIV cure nhưng đã có cơ sở khoa học và triển vọng cho hướng nghiên cứu này. Ở ngày thứ 3 của hội nghị, một loạt nhà tài trợ và trung tâm nghiên cứu lớn như American Foundation for AIDS Research, the European AIDS Treatment Group, the French National Agency for Research on AIDS and Viral Hepatitis (ANRS), the International AIDS Society, the National Institutes of Health, Sidaction and Treatment Action Group, đã đưa ra thông cáo sẽ theo đuổi và tài trợ cho những nghiên cứu này.

Với kết quả của nghiên cứu iPrEx năm ngoái về hiệu quả phòng HIV của thuốc kháng virus [Truvada] trong các đối nhóm tình dục đồng giới mam đã đưa ra nhiều hy vọng và khả năng scale up biện pháp phòng này. Vấn đề còn lại là hạ giá thành của thuốc để biện pháp này được tiếp cận rộng rãi hơn. Thông điệp của nghiên cứu này là gì? Không chỉ có duy nhất bao cao su có khả năng phòng HIV. Sau 3 thập kỷ, bao cao su đã thành công nhưng lại thất bại trong các nhóm có tỉ lệ nhiễm cao đặc biệt là nhóm tình dục đồng giới nam; một phần lớn không thích dùng bao cao su vì giảm khoái cảm tình dục và các yếu tố psychological liên quan. Vì vậy phòng bằng thuốc là một biện pháp thay thế rất cần thiết. [Tôi có trình bày một nghiên cứu tại Nigeria trong đó cho thấy nhóm nam đồng giới ở đây có tỉ lệ nhiễm cao gấp khoảng 5 lần tỉ lệ nhiễm trong dân cư và có tới 40% những đối tượng này đồng thời quan hệ tình dục với phụ nữ. Tình dục đồng giới là một trong những vấn đề rất bị kỳ thị và nhạy cảm tại các nước châu Phi. Quỹ Gates vừa gửi thư cho một số tổ chức đề nghị thực hiện nghiên cứu này trong nhóm MSM ở các nước châu Phi]. Đồng hành với kết quả của iPrEx là ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc kháng virus [ARV] đã làm giảm đáng kể tỉ lệ lây nhiễm. IAS là tổ chức advocate cho phương pháp tiếp cận này gọi là Treatment as Prevention.

Tóm lại, các nghiên cứu về HIV đang diễn ra mạnh mẽ tại các viện nghiên cứu lớn và nhân loại hoàn toàn có quyền hy vọng vào một tương lai mà ở đó HIV có thể được phòng và điều trị triệt để.

8/05/2011

Bằng cấp không quan trọng

Thật tức cười khi đọc bài này: Bằng cấp không quan trọng.

Nếu ông Ngoạn nói bằng cấp không quan trọng thì không bao giờ ông chui đầu vào học 1 chương trình tiến sĩ online.

1) Ông có thừa khả năng để biết rằng 1 chương trình online dạng này sẽ không đem lại cho ông kiến thức gì cả nhưng cố học đề mị thiên hạ bằng cái bằng tiến sĩ giấy.

2) Ông không đủ khả năng để phân tích và chọn cho mình một trường đáng để học.

3) Dù nguyên nhân là 1 hay 2 thì ông cũng chẳng hiểu mục đích của học tiến sĩ là để làm gì. [Ai thử tìm hiểu xem ông Ngoạn làm được bao nhiêu nghiên cứu với cái bằng Tiến sĩ của mình?].

La Salle là một diploma mill và chủ của nó đã bị bỏ tù năm 1997. Tôi sống ở Louisiana 5 năm trời, ngoại trừ Tulane, vài trường còn lại có chút tiếng và có sinh viên du học là LSU, Loyola, UNO và Xavier. LA còn hàng trăm trường khác, những loại trường lè tè dành cho những người không có khả năng chui vào đâu. Hỏi dân ở đây, sẽ chẳng ai biết đến trường La Salle hay Orion.

La Salle University [Louisiana] fraud.

8/04/2011

Dow [&n]

Chỉ số Dow hôm nay giảm 351 điểm [3%], cao nhất từ năm 2008. Các chỉ số khác cũng tụt cỡ 3 đến 5%. Bà con nào có investment thì sẽ nhìn thấy ảnh hưởng thê thảm từ vụ này. Đây là phản ứng sau khi mức trần nợ được thông qua. [Nói như ông Krugman thì chẳng khác gì tự sát]. Nước Mỹ dự đoán sẽ có thể đi vào tình trạng suy trầm và thất nghiệp sẽ ra tăng. DC là khu vực có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất nước Mỹ cũng đã chứng kiến thất nghiệp tăng 1% trong tháng qua.

Hiểu thế nào về nợ? Chẳng nước phát triển nào không nợ cỡ xấp xỉ 100% GDP. Tây Âu, Nhật bản còn nợ thê thảm hơn Mỹ. Nhật nợ cỡ 200% GDP. Tất nhiên Nhật khác Mỹ là họ ít nợ nước ngoài hơn Mỹ và có mức dự trữ ngoại tệ rất lớn. Nợ nước ngoài của Mỹ chiếm khoảng 30% tổng nợ. Tuy nhiên như phân tích của các nhà kinh tế, mối lo ngại của Mỹ lúc này không phải là nợ mà là thất nghiệp. [Mỹ có dự trữ vàng lớn nhất thế giới và với lợi thế của đồng đô la, họ đủ khả năng manipulate hệ thống tiền tệ thế giới]. Để giải quyết tình trạng thất nghiệp thì phải tăng chi tiêu và investment và vì vậy nước Mỹ cần tiếp tục vay nợ. Nợ của chính dân mình là việc rất bình thường; sử dụng tiền của dân vào đầu tư để tạo ra revenue [lợi nhuận] là một trong các nguyên lý phát triển.

Vì sao nợ của nước Mỹ tăng vù vù trong thập kỷ qua. Dưới đây là vài con số để hiểu rõ hơn Bush đã đẩy nước Mỹ vào tình trạng nợ nần như thế nào và tại sao chính sách cắt giảm chi tiêu của phe Cộng hòa nhằm vào trẻ em, người già và các phúc lợi xh khác sẽ không có kết quả. Chưa một nhà kinh tế nào cho rằng giảm thuế sẽ làm phát triển kinh tế [trừ phe Cộng hòa và tea party toàn nhắm mắt nói láo].

- 28% là do giảm lợi tức do suy thoái kinh tế
- 15% do tăng chi phí quân sự
- 13% do chính sách giảm thuế của Bush
- 11% do lãi của nợ
-10% chi phí khác
-8% là do các chính sách giảm thuế khác
-6% là do gói kích cầu
- 2% medicare part D
-7% khác

8/02/2011

Buồn nôn với chính trị Mỹ qua vụ “debt ceiling”

Chính trị xứ nào cũng có lúc như C.

Mấy ngày này không dám bật TV vì cảm giác disgusting mỗi lần nghe các vị trong quốc hội cãi nhau về trần nợ. Phe Cộng hòa thực ra đã thắng trong việc lừa bịp dân chúng Mỹ lần nữa. Rất tiếc là nhiều dân Mỹ không đủ khôn ngoan để mở mắt ra nhìn thực chất của việc cắt giảm chi tiêu lần này. Vụ cắt giảm này thực ra sẽ chỉ có hại cho dân nghèo và người già vì nó làm giảm các phúc lợi xh, hưu trí, y tế, giáo dục, cho tầng lớp này. Trong khi các tập đoàn kếch xù vẫn được lợi về thuế từ thời Bush. [A real loser trong vụ này là dân chúng Mỹ chứ chẳng phải đảng cộng hòa hay dân chủ]. Lố bịch đến kinh người trong bài toán giảm thuế mà phe cộng hòa tiếp tục đem ra chơi và lừa dân.Muốn có các dịch vụ xh tốt thì phải đóng thuế - chuyện rất đơn giản. Vậy mà cứ đụng đến thuế là nhiều dân cứ nhảy dựng lên mới tài. So với các nước châu Âu thì phần trăm thu nhập phải đóng thuế của dân Mỹ, đặc biệt là dân giàu, chả là cái đinh gì. Mà theo dự đoán chủ quan của mình thì cái kế hoạch cắt giảm chi tiêu này sẽ chả làm cho chính phủ Mỹ giảm thâm hụt ngân sách 1 penny nào vì cuối cùng thất nghiệp sẽ tăng, trợ cấp thất nghiệp sẽ đè nặng lên ngân sách, và tệ hại nữa là lợi tức [revenue] sẽ giảm. Muốn giảm thâm hụt ngân sách thì phải giảm ngân sách quốc phòng và tăng thuế. Không còn cách nào khác.

Theo phân tích thì phe Cộng hòa đã làm thiệt hại của nước Mỹ 1.7 ngàn tỉ chỉ trong ngày thứ 2 này.

http://money.cnn.com/2011/08/01/markets/debt_ceiling_treasury_bills/index.htm

Và cả mấy tuần này thị trường chứng khoán tuột dốc và investment của dân chúng bị ảnh hưởng thậm tệ.

Mượn lời một người bạn: “Tao phát xấu hổ dưới thời Bush với bao nhiêu chiến tranh, phiền toái và quan điểm lố bịch. Lần này thì cảm giác như bị bán đứng bởi một quốc hội ngu dốt và vô trách nhiệm. Và quái thai ở đâu sinh ra một đám tea party”